Archive

Archive for the ‘WHY ?’ Category

Vì sao chúng ta phải tặng quà Giáng sinh cho nhau?

December 24, 2020 Leave a comment

Việc tặng quà Giáng sinh theo thời gian đã trở thành một trong những truyền thống của ngày lễ này. Thế nhưng, bạn đã bao giờ thắc mắc ý nghĩa của việc tặng quà Giáng sinh trong dịp này?

Khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua từ phía Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính. Họ mang đến 3 món quà quý giá là vàng, trầm hương và mộc dược.

qua-giang-sinh

Vàng có ý nói Chúa Giêsu là vua, nhũ hương để tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa và mộc dược tiên báo cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại. Đây là ba màu sắc tượng trưng cho Giáng sinh và theo thời gian, từ cách trang trí đến thời trang, đều lấy cảm hứng từ gam màu này.

Ba vị vua có rất nhiều của cải, nhưng thậm chí cả những người nghèo cũng dâng lên Chúa tất cả những gì họ có để bày tỏ lòng tôn kính đối với cậu bé thần thánh. Những người chăn cừu mang tặng Chúa trái cây và các đồ chơi xinh xắn do chính tay họ làm.

Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25/12 nhưng thường được mừng từ tối ngày 24/12 bởi theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm.

Đối với một số người, tặng quà cho nhau trong ngày Giáng sinh có ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Bởi Chúa Jesus đã chịu đóng đinh lên cây thập tự giá và hy sinh cho nhân loại. Việc tặng quà xem như mô phỏng cho hành động nho nhỏ của bạn dành cho người khác mà không cần được đáp trả. Việc tặng quà Giáng sinh còn là biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn.

Categories: WHY ?

Tại sao chúng ta hay thấy hình khuôn mặt trong những đồ vật vô tri?

December 23, 2020 Leave a comment

Các nhà khoa học cho biết con người chúng ta rất hay tưởng tượng ra những khuôn mặt từ hình dáng của những vật thể vô tri. Chỉ cần nó có những nét từa tựa đôi mắt và cái miệng, não bộ bạn sẽ tự động gán nó cho một khuôn mặt.

Hành vi nhận thức này phổ biến đến nỗi các nhà khoa học phải đặt cho nó một cái tên: "Face pareidolia". Các nhà khoa học đã xác định được một khu vực trong não bộ gọi là Fusiform face area (FFA) chuyên có chức năng nhận dạng khuôn mặt. Họ chứng minh điều đo bằng cách đưa các tình nguyện viên vào máy chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) và lần lượt chiếu cho họ xem một loạt các hình vẽ.

Khi đến các hình vẽ khuôn mặt thật, FFA mất 130 mili giây để được kích hoạt trong não bộ, giúp tình nguyện viên nhận biết đó là một khuôn mặt. Với các hình vẽ tựa khuôn mặt, FFA mất một chút lâu hơn, nhưng cũng chỉ 165 mili giây để sáng lên trên màn hình fMRI. Còn các hình vẽ không có dạng khuôn mặt, FFA không được kích hoạt.

 photo-2-15982321454751517604593

Các nhà khoa học đã xác định được một khu vực trong não bộ gọi là Fusiform face area (FFA) chuyên có chức năng nhận dạng khuôn mặt.

Quan sát sự phát triển của khu vực FFA trong não bộ, các nhà khoa học nhận thấy nó kém phát triển ở trẻ em nhưng sẽ phát triển đầy đủ khi chúng ta đến tuổi vị thành niên. Mặc dù vậy, trẻ sơ sinh ngay từ 3 tháng tuổi đã có thể nhận biết các khuôn mặt khác nhau và đặc biệt thấy gần gũi với khuôn mặt của mẹ.

Một giả thuyết đặt ra, đó là khu vực FFA và chức năng nhận biết khuôn mặt sẽ cho phép trẻ sơ sinh bám lấy mẹ mình và những người khác xung quanh để có được thức ăn. Ở thời kỳ đó, thị giác của trẻ chưa phát triển hoàn toàn nên chỉ có thể lờ mờ thấy các mẫu hình khuôn mặt.

photo-3-1598232143893490836477

Chính sự nhận diện không đầy đủ này đã gieo mầm cho "Face pareidolia" khiến chúng ra có thể tưởng tượng ra một khuôn mặt dù đó không hẳn là các khuôn mặt thật.

"Mô hình cơ bản chứa các đặc điểm xác định khuôn mặt người (thường là hai mắt và một miệng) là thứ mà bộ não của chúng ta đặc biệt chú ý đến. Chính nó đã thu hút sự chú ý của chúng ta đến các vật thể khơi gợi Face pareidolia", Colin Palmer một nhà thần kinh học đến từ Đại học New South Wales (UNSW) cho biết.

photo-4-1598232143449950551499

"Nhưng nhận thức khuôn mặt không chỉ là nhận biết sự hiện diện của một khuôn mặt. Chúng ta còn cần nhận ra người đó là ai và đọc thông tin từ khuôn mặt của họ, chẳng hạn như liệu họ có đang chú ý đến chúng ta hay không, và liệu họ đang vui hay đang buồn".

Nhu cầu nhận diện này thúc đẩy vùng FFA trong não bộ phát triển và hoàn thiện ở tuổi vị thành niên. Đến tuổi này, việc nhận biết được khuôn mặt với các trạng thái khác nhau sẽ đem lại lợi thế tiến hóa, Palmer nói. Chẳng hạn, một người có thể biết người đối diện là một kẻ lạ mặt hay kẻ thù đang giận dữ với mình, anh ta có thể sẵn sàng đối phó hoặc chạy trốn mối đe dọa đó để tồn tại.

Categories: WHY ?

Tại sao người khiếm thị lại rất thính tai?

November 23, 2020 Leave a comment

Những người khiếm thị thường có đôi tai rất thính nên mọi người thường hay nói rằng ‘ông trời bù cho họ’. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học, điều này được lý giải như thế nào?

Bù lại thiệt thòi cho việc phải sống trong bóng tối, những người mù tự động phục hồi vùng thị giác trên não để đảm nhận nhiệm vụ định hướng âm thanh, do đó, khả năng nghe của họ siêu việt hơn nhiều so với người thường.

"Những kết quả này đã chỉ ra sự linh hoạt của não bộ", nhà khoa học thần kinh Franco Lepore thuộc Đại học Montreal, Canada, cho biết. Ông tin rằng nếu những người mù bẩm sinh hoặc từ khi còn nhỏ, sử dụng âm thanh để cảm nhận môi trường, đầu óc của họ sẽ thích nghi với điều đó.
Lepore cho rằng nếu ai đó bị mù từ khi còn nhỏ, não bộ của anh (chị) ta có thể trải qua việc tái tổ chức tinh tế. Nhóm của ông cũng tìm thấy rằng những người bị mù ở giai đoạn sau của cuộc đời thường thiếu hoạt động trên vùng vỏ não thị giác. Phát hiện này đã ủng hộ ý kiến trên.

Các thí nghiệm trước kia đã chỉ ra rằng những người bị mù trong giai đoạn đầu của cuộc đời thường trội hơn người khác trong những công việc không cần đến thị lực, như đánh giá tiếng nói, nhớ từ và khả năng âm nhạc. Một vài nhà khoa học khẳng định người mù có thể chỉ ra vị trí nguồn âm trong không gian tốt hơn so với người sáng mắt. Tuy nhiên, những người khác đã thất bại trong việc tìm ra lợi thế này.

Nhóm nghiên cứu đã scan não những người tham gia thí nghiệm để tìm hiểu vùng nào bị kích động mạnh nhất. Ảnh chụp cho thấy những người mù có khả năng định vị âm thanh vượt trội thường có hoạt động mạnh hơn ở vùng vỏ não thị giác – vùng não vốn chỉ dành cho việc nhìn. Ngược lại, ở nhóm sáng mắt và những người mù nghe kém, không có hình ảnh của hoạt động này.

Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng những người khiếm thị có xu hướng xử lý âm thanh trong một “băng thông” hẹp hơn, chính xác hơn so với những người bình thường, cho thấy cảm giác điều chỉnh tần số của họ trong vỏ thính giác được tinh chỉnh tốt hơn so với người không bị khiếm thị.

Những người bị cận thị việc thể thiện chính xác âm thanh không quan trọng vì họ có thể nhìn giúp họ nhận ra đồ vật, trong khi những người mù chỉ có thông tin thính giác.

Từ đó giúp chúng ta hiểu được tại sao người khiếm thính lại có thể phát hiện âm thanh trong môi trường.

Categories: WHY ?

Tại sao bò luôn quay mặt về hướng Bắc hoặc Nam trong khi gặm cỏ?

October 23, 2020 Leave a comment

Ngoài bò, nhiều loài gia súc khác cũng có thói quen quay đầu về hướng Bắc hoặc Nam khi gặm cỏ, nghỉ ngơi.

Hầu hết mọi người không nghĩ nhiều đến việc chăn thả bò, nhưng khi một nhóm các nhà khoa học quan sát hàng ngàn bức ảnh vệ tinh từ Google Earth về những con bò, họ tình cờ phát hiện ra một chi tiết mà cả ngàn năm qua không ai để ý đến: Những con bò ​​sẽ đứng dọc theo cực từ trường của Trái đất – quay mặt về hướng bắc hoặc nam – bất cứ khi nào chúng gặm cỏ hoặc nghỉ ngơi.

bo

Tuy một số động vật được biết là có một “la bàn” bên trong, đây là lần đầu tiên hiện tượng này được tìm thấy ở một loài động vật có vú lớn. Một điều kỳ lạ nữa là càng ở gần cực của trái đất, những con bò càng kém chính xác trong việc định hướng.

Các nhà khoa học nhận thấy không chỉ bò mà những đàn gia súc luôn quay đầu về một hướng. Những hình ảnh từ Google Earth cho thấy trâu, bò có xu hướng đứng theo trục Bắc-Nam, trong đó đầu của chúng hướng về phía Bắc.

Những đàn hươu hoang dã cũng có hành vi tương tự, nhưng các thợ săn đã không chú ý tới hiện tượng này trong suốt hàng nghìn năm. Nhiều nhà khoa học nhận định rằng từ trường của Trái đất có thể tác động tới hành vi của những con vật.

Nhiều động vật – trong đó có chim và cá hồi – sử dụng từ trường Trái đất để định hướng trong quá trình di cư. Một số nghiên cứu cũng chứng minh rằng dơi, một động vật có vú, cũng có khả năng định hướng nhờ từ trường.

Tiến sĩ Sabine Begall và cộng sự thuộc Đại học Duisburg-Essen (Đức) sau khi tiến hành nghiên cứu gia đàn gia súc trâu, bò, hươu thông qua Google Earth đã khẳng định: "Chúng tôi kết luận rằng từ trường của Trái đất là tác nhân chính khiến gia súc có xu hướng quay mặt về phía bắc. Điều đó giải thích tại sao tổ tiên của chúng có thể thực hiện những chuyến di cư dài hàng nghìn km từ châu Phi tới châu Á và châu Âu", Sabine nói.

Categories: WHY ?

Vì sao kiến không bị lạc đường?

October 23, 2020 Leave a comment

Đôi khi những con kiến phải đi tìm nguồn thức ăn xa tổ của chúng đến hàng kilômet, thế nhưng dù thế nào nó vẫn có khả năng quay trở về nơi xuất phát một cách rất chính xác và an toàn.

Loài kiến sống cuộc sống theo đàn, chúng đều có “”nhà”” của chính mình. Vào thời tiết nắng ấm, chúng thường phải ra ngoài tìm kiếm thức ăn, có khi phải đi đường rất xa hàng kilômet. Từ nơi rất xa lại tìm về được “”nhà”” của chính mình, thật không phải là một chuyện đơn giản, nhưng con kiến bé nhỏ lại có một bản năng tìm đường rất giỏi, khó mà bị lạc đường được.

Các nhà khoa học khi nghiên cứu về loài kiến, đã phát hiện ra thị giác của kiến rất nhanh nhạy, không những cảnh vật trên đường được chúng dùng để nhận biết đường đi, mà còn cả cảnh vật trên bầu trời cũng có thể được chúng dùng để nhận biết đường đi.

Có người đã làm một cuộc thử nghiệm như sau: nhân lúc một đàn kiến đang trên đường về tổ, dùng một bình phong hình ống nhốt chúng lại, làm cho chúng không thể nhìn được cảnh vật xung quanh, chỉ có thể nhìn thấy bầu trời, kết quả là đàn kiến bò vẫn đúng đường.

Sau đó, người ta lại dùng một tấm ngang chặn phía trên của đàn kiến về tổ, ngoài ra đặt rất thấp, làm cho chúng không thể nhìn thấy cảnh vật của bầu trời và xung quanh, lúc này chúng bắt đầu bò loạn lên. Do vậy, có thể thấy rằng, vị trí của Mặt Trời và ánh sáng trên trời phản xạ xuống, đối với kiến mà nói đều có thể dùng để nhận biết được hướng chúng về tổ.

kien

Ngoài dựa vào mắt ra, kiến còn có thể căn cứ vào mùi để nhận biết. Theo các nhà nghiên cứu ở Trường đại học Sheffield (nước Anh), có hai yếu tố quan trọng giúp kiến có thể tự định phương hướng cho mình khi đi tìm mồi xa tổ là biên độ góc giữa hai lối rẽ do chúng tạo ra và một mùi hương đặc trưng làm dấu do chúng để lại.

Chẳng hạn như khi nghiên cứu trên loài kiến vàng, các nhà khoa học này nhận thấy lộ trình tìm mồi xuất phát từ tổ được kiến xác lập bằng cách sử dụng thứ mùi đặc trưng làm dấu hiệu cho những con đi sau chúng.

Tại những nơi lộ trình cần được rẽ nhánh để dẫn đến chỗ có nguồn thức ăn thì một trong những góc giữa các lối rẽ do kiến tạo ra sẽ luôn là 600. Khi đó, bất kỳ con kiến nào dù có vô tình lọt ra khỏi lộ trình cũng đều có thể tìm được đường đi đúng bằng cách tìm ra góc hẹp này. Để xác định đường quay về tổ, con kiến đó chỉ cần quay lưng về phía góc hẹp là có thể định hướng đi một cách chính xác.

Categories: WHY ?

Bằng cách nào loài chim biết đường di trú?

September 23, 2020 Leave a comment

Loài chim dựa vào đâu để xác định phương hướng khi tìm đường di trú?

Vào cuối mùa hè, nhiều giống chim ở nhiều miền trên thế giới đã rời bỏ “nhà” để bay về phương nam trú đông (lúc đó, ở Nam bán cầu là mùa hè). Đôi khi, thay vì về phương nam chúng bay sang một lục địa khác cách đó cả mấy ngàn cây số. Mùa xuân sau đám chim này trở lại, nhưng không quay về cái xứ sở từ đó chúng đã ra đi. Bằng cách nào chúng tìm ra đường đi và về?

Người ta đã làm nhiều thí nghiệm để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Một trong những thí nghiệm ấy là một số cò được bắt đi khỏi tổ và đem đến một nơi khác trước cuộc trú đông khởi diễn vào mùa thu. Từ chỗ ở mới này người ta dự đoán chúng sẽ tìm ra một hướng mới để đi đến nơi sinh sống trong lúc trú đông. Nhưng, đến thời điểm phải đi, chúng vẫn theo đúng hướng mà chúng phải theo như khi chúng ở nơi cũ. Dường như có một năng hướng bẩm sinh đã khiến chúng biết phải bay về hướng nào khi mùa đông sắp tới gần.

chim-di-tru

Khả năng tìm ra đường trở về nhà của loài chim thật đáng cho ta ngạc nhiên. Bị chở trên máy bay để tới một nơi cách chỗ chúng ở ít nhất cũng khoảng 650km, thế mà khi được thả ra, chúng vẫn quay về đúng chỗ đã xuất phát. Nói rằng chúng có năng hướng tự nhiên biết tìm đường trở về, nói như vậy chẳng giải thích được hết những bí ẩn, vẫn chưa trả lời vào trọng tâm câu hỏi: “Bằng cách nào chúng tìm ra được đường về?” Ta biết rằng những con chim non chưa hề biết đường đi, vì khi đến nơi trú đông chúng mới ra đời. Vả lại, khi bay trở về thì thường là bay vào ban đêm, không nhìn thấy tiêu điểm trên mặt đất. Có loài chim còn bay qua biển. Trên là trời, dưới là biển, không có một tiêu điểm nào hết.

Một lý thuyết khác cho rằng loài chim có khả năng cảm ứng với từ trường bao quanh trái đất. Những từ tuyến chạy từ cực bắc tới cực nam. Có lẽ bầy chim đó theo các từ tuyến này. Nhưng thuyết này không đưa ra được bằng chứng cụ thể có khả năng thuyết phục. Nói trắng ra là cho đến hiện nay khoa học vẫn chưa đưa ra được lời giải thích đầy đủ về sự kiện bằng cách nào loài chim tìm được đúng hướng để bay đến nơi trú đông và rồi từ đó bay trở về một cách đúng hướng!

Có nhiều chuyện thú vị liên quan đến sự di trú của loài chim. Khi Columbus đến gần bờ biển lục địa châu Mỹ, ông thấy một bầy chim bay về theo hướng đông nam. Điều này có nghĩa là vị trí của ông lúc đó cách lục địa không xa. Thế là ông đổi hướng theo hướng chim bay. Nhờ đó ông đã tới đảo ngày nay gọi là Bahamas thay vì tới mũi Florida.

Categories: WHY ?

Nơi nào lạnh nhất trên trái đất?

August 23, 2020 Leave a comment

Bạn có biết trên thế giới chỗ nào lạnh nhất nhất không? Trên thế giới chỗ lạnh nhất là Châu Nam Cực, nhiệt độ bình quân năm là -25°C, nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất là -88,3°C, đã từng có ghi chép là -94,5°C. Ở đó vĩ độ cao, hơn nữa là một lục địa toàn băng, đồng thời là khu vực bão tố lớn nhất trên thế giới. Ngoài ra trên lục địa những nơi có người ở, chỗ lạnh nhất được xem là hai vùng Uâyhôzanck và Aormikhan ở Đông Xibêri, Nga.

Nhiệt độ bình quân hằng năm ở hai vùng đó là -15°C, tháng 3 mùa đông dưới -40°C. Nhiệt độ thấp nhất ở Uâyhôzanck là -68°C (1892), ở Aormikhan thấp nhất là -78°C (1933).

Sở dĩ khu vực Uây-Ao đặc biệt lạnh là vì vĩ độ và địa thế ở đó quyết định. Ở đó vĩ độ cao, vành đai Bắc Cực đi qua đó nên gió biển ấm áp không thổi đến được, đặc biệt là các miền Đông Nam, Tây Nam và Nam của khu vực này bị mạch núi Chiaski bao vây, chỉ có phía bắc mở ra Bắc Băng Dương, nhưng hai chỗ này đều nằm trong thung lũng cho nên không khí ấm phía nam đều bị che khuất.

Còn khí hậu giá lạnh ở phía bắc lại có thể tràn thẳng vào và dừng lại trong thung lũng. Ở vùng này ánh nắng Mặt Trời vốn ít, nhiệt độ đã thấp lại cộng thêm không khí giá rét, đúng là đã ở trong tuyết lại thêm băng, khiến cho vùng này quanh năm lại càng lạnh giá hơn.

Categories: WHY ?

Vì sao khi tuyết rơi không lạnh nhưng khi tuyết tan lại lạnh?

July 23, 2020 Leave a comment

Hóa ra tuyết rơi không phải là thời điểm lạnh nhất của mùa đông.

Vào mùa đông, nhiều vùng thường chịu sự chiếm lĩnh của luồng không khí lạnh. Luồng không khí vừa lạnh vừa khô bắt nguồn từ phương Bắc di chuyển xuống phía Namvới cường độ mạnh, khi nó tiếp xúc luồng không khí nóng ẩm ở phương Nam, do không khí lạnh nặng hơn không khí nóng, liền đẩy không khí nóng ẩm bay lên cao, khiến cho hơi nước trong luồng không khí nóng nhanh chóng kết tủa tạo thành hạt băng, các hạt băng to dẩn lên trở thành hoa tuyết rồi sau đó rơi xuống đất.

tuyet

Trước khi luồng không khí lạnh đến, thông thường thì luồng không khí nóng ẩm ở phương Nam rất mạnh, vì thế, thời tiết có phẩn ấm áp. Mà hơi nước kết tụ thành hoa tuyết cũng giải phóng ra một nhiệt lượng nhất định, điều này khiến cho thời tiết trước khi tuyết rơi và khi tuyết rơi thường không lạnh.

Sau khi trung tâm luồng không khí lạnh qua đi, mây tan tuyết tạnh, thời tiết trở nên trong xanh, do trên bẩu trời đã mất đi tẩng mây cản trở, trên mặt đất liền phóng ra một nhiệt lượng rất lớn, nhiệt độ lúc này giảm xuống đáng kể. Hơn nữa, những nơi tuyết rơi khi bị ánh sáng Mặt trời chiếu xạ xuống sẽ bị tan chảy, khi tan chảy sẽ hấp thu một nhiệt lượng lớn.

tuyet-1

Theo thí nghiệm thực tế, 1 gam băng ở 0 độ C, tan chảy thành nước 0 độ C cẩn hấp thu là 334,4 micron(80kcal) nhiệt lượng, cho nên khi một vùng lớn tuyết tan thì nhiệt lượng cẩn hấp thu cũng phải tương đương. Vì thế người ta có cảm giác thời tiết lạnh hơn.

Categories: WHY ?

Vì sao đao phủ ngày xưa lại phải phun rượu lên lưỡi đao trước khi xử tử phạm nhân?

June 24, 2020 Leave a comment

Trước khi hành hình, các đao phủ thời bấy giờ đều có thói quen ngậm một hớp rượu trong miệng rồi phun lên lưỡi đao. Thực chất, đây là một hành động nhằm bảo vệ mình của các đao phủ.

Mỗi loại nghề nghiệp đều có những quy tắc nhất định mỗi khi hành nghề. Nghề đao phủ cũng không phải ngoại lệ và thậm chí còn nhiều quy tắc kiêng kỵ hơn.

Nhiều người thường coi thứ nghề đoạt mạng người khác như đao phủ là một nghề nghiệp ác độc, dã man. Thế nhưng sự thực là muốn trở thành một đao phủ thực thụ cũng không hề dễ dàng. Thậm chí nếu hành hình không tới nơi tới chốn, họ còn có nguy cơ bị người nhà phạm nhân tìm tới tính sổ. Vì vậy, một đao phủ trước khi lên pháp trường đều sẽ phải trải qua quá trình huấn luyện vô cùng nghiêm khắc.

Việc phun rượu lên lưỡi đao trước khi hành hình không phải là một yêu cầu bắt buộc, thế nhưng lại trở thành một thứ luật bất thành văn trong giới đao phủ thời bấy giờ. Vì vậy chỉ cần không rơi vào những tình huống đặc biệt, các đao phủ đều sẽ thực hiện hành động nói trên trước khi tiến hành chém đầu phạm nhân.

Phun rượu tế đao thực chất là một phương thức cúng tế. Đao phủ sở dĩ phải làm việc này là bởi nghề của họ vốn là nghề lấy đầu người, họ tin rằng hành nghề này dễ bị vong linh quấy rầy, và việc phun rượu lên lưỡi đao sẽ tránh bị ma quỷ quấy nhiễu.

Ngoại trừ hành động trên, không khó để nhận thấy giới đao phủ thời xưa còn thường mặc áo đỏ, quấn khăn đỏ lên đầu. Thói quen này cũng mang mục đích xua đuổi tà ma như việc phun rượu tế đao, bởi người xưa tin rằng ma quỷ đều sợ màu đỏ.

Vì vậy, những việc làm tưởng như kỳ lạ nói trên của giới đao phủ thực chất chỉ nhằm mục đích bảo vệ bản thân trước các thế lực tâm linh mà họ tin rằng có tồn tại.

Categories: WHY ?

Vì sao hầu như tất cả máy bay đều có màu trắng?

December 23, 2007 Leave a comment

Có thể bạn không biết nhưng sơn màu trắng giúp máy bay nhẹ hơn đáng kể.

Hầu như tất cả những chiếc máy bay dân dụng đều được sơn màu trắng, tại sao lại như vậy?

Tất nhiên cũng có một vài trường hợp ngoại lệ, như Air New Zealand từng biến một chiếc Boeing 777 thành một tấm biển quảng cáo khổng lồ cho tựa phim Chúa Nhẫn, một số hãng khác lại thích máy bay của mình có màu cam hay màu xanh.

photo-1-1608634725336925179725

Nhưng đa số máy bay chở khách mà chúng ta thấy đều được sơn màu trắng, trông khá nhạt nhẽo và vô vị. Tại sao người ta lại không sơn những chiếc máy bay có màu sắc sặc sỡ và bắt mắt hơn, để tạo cảm giác thú vị cho hành khách? Tất cả đều có nguyên nhân của nó.

Nhẹ hơn và rẻ hơn

Sử dụng thêm một vài lớp sơn cũng đồng nghĩa với việc trọng lượng sẽ tăng lên. Người phát ngôn của Boeing từng nói với Telegraph Travel: "Sơn màu sắc khác đồng nghĩa với việc trọng lượng mỗi chiếc máy bay sẽ tăng thêm 273 đến 544 kg. Trọng lượng tăng thêm đồng nghĩa với nhiên liệu sử dụng để bay cũng sẽ nhiều hơn, và 544 kg là tương đương với 8 hành khách".

Ngay cả việc sơn màu cũng tốn tiền và việc sơn lại một chiếc máy bay cũng tốn rất nhiều tiền. Việc sơn một chiếc máy bay có chi phí từ 50.000 USD tới 200.000 USD. Việc sơn thêm màu sắc và sử dụng nhiều lớp sơn cũng khiến cho chi phí này tăng lên gấp nhiều lần.

Giữ cho máy bay mát hơn

R John Hansman, giáo sư ngành hàng không vũ trụ, cho biết: "Lý do chính khiến những chiếc máy bay được sơn màu trắng hoặc màu sáng, là để phản chiếu ánh sáng Mặt Trời và giảm thiểu sự tăng nhiệt độ, cũng như bất kỳ thiệt hại nào từ bức xạ Mặt Trời".

Một số vật liệu trên vỏ máy bay được làm bằng sợi carbon hoặc sợi thủy tinh, như phần chóp mũi máy bay là nơi đặt radar, rất dễ bị hư hỏng bởi sức nóng từ ánh nắng Mặt Trời. Nên đặc biệt những khu vực này bắt buộc phải được sơn màu sáng hoặc màu trắng.

Dễ bảo trì và dễ bán lại hơn

Những chiếc máy bay cần được thường xuyên bảo trì và kiểm tra, để phát hiện các vết nứt, vết lõm hay rò rỉ và các hư hỏng khác. Việc sử dụng mặt phẳng màu trắng sẽ giúp kỹ thuật viên dễ dàng phát hiện các vấn đề này.

Các hãng hàng không cũng thường xuyên bán lại những chiếc máy bay của mình cho các hãng khác. Vì vậy mà sơn màu trắng là an toàn nhất và dễ bán lại nhất, các hãng hàng không khi mua lại chỉ việc dán logo của bên mình lên mà không cần sơn lại toàn bộ chiếc máy bay để đồng bộ.

Dễ dàng tìm thấy hơn

Những chiếc máy bay màu trắng cũng giúp cho việc tìm kiếm nếu xảy ra tai nạn dễ dàng hơn. Đặc biệt là nếu máy bay rơi xuống một khu rừng hay đại dương. Việc phát hiện các mảnh vỡ từ máy bay cũng sẽ dễ hơn.

Một số ngoại lệ

Việc sơn máy bay với các màu sắc khác, đặc biệt là màu đen, khiến cho chi phí tăng cao. Các màu sắc tối phai nhanh hơn, đồng nghĩa với việc các hãng hàng không phải thường xuyên sơn lại những chiếc máy bay của mình hơn là màu trắng. Hơn thế nữa cũng khó bán lại máy bay cho các hãng hàng không khác.

Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ, khi các hãng hàng không muốn máy bay của mình thực sự nổi bật. Như hãng WOW nổi tiếng với những chiếc máy bay màu tím đậm, hay Mango với những chiếc máy bay màu cam của mình.

Đặc biệt hơn là hãng Air New Zealand, với chiếc Boeing 787-9 Black Livery được sơn đen toàn bộ từ đầu tới đuôi. Màu sơn đặc biệt này khiến cho chiếc máy bay của Air New Zealand trở thành chiếc máy bay dễ nhận diện nhất thế giới.

Categories: WHY ?